Gặp những người Việt trên nước Đức
Người Việt ở München khá đông. Tất cả đều chấp hành tốt luật pháp Đức. Kỷ luật Đức là một kỷ luật tự giác.
- Mẹ em là diễn viên điện ảnh. Mẹ em là bà Thoa. Mẹ em sang đây chơi với chúng em ba tháng, mới về Việt Nam một tuần nay. - Biết tôi là nhà văn, Hương nói khi chúng tôi vừa gặp nhau.
- Nếu vậy, mẹ em đã đóng một phim dựa theo truyện của anh. - Tôi reo lên.
- Phim gì anh?
- Phim “Về quê”.
Bà Thoa là một diễn viên đóng rất nhiều phim. Tôi nói ra điều ấy cho vui câu chuyện thôi, chứ chẳng nghĩ Hương lại nhớ cái phim được chiếu vài lần trên VTV3 ấy. Bộ phim truyền hình đã làm lạc đi ý tưởng truyện ngắn Những người đi ở của tôi. Truyện ngắn tôi viết về những người thuộc thế hệ tôi. Khi còn trẻ thì tất cả vì con. Về già, tất cả vì con và vì cháu. Lúc trẻ ăn được thì chẳng có cái mà ăn. Khi già có cái ăn đấy, nhưng lại không ăn được. Một truyện ngắn viết về lớp người không được hưởng thụ, về những Ôsin của thời đại mới.
- Có phải phim có cảnh bố mẹ gọi điện thoại vụng con cái, sợ con biết không? - Thật không ngờ Hương lại nhớ đến phim ấy.
Câu nói của Hương ắt hẳn làm sáng bừng vẻ mặt tôi. Tôi hiểu rằng trước mắt mình là một người bạn. Một người hiểu mình, hơn thế một người quen biết từ lâu. Vừa chân ướt chân ráo từ Nürnberg (Nuremberg) về München (Munich), tìm một chỗ nghỉ, rồi tìm một quán ăn, ngờ đâu được gặp người hoàn toàn chưa gặp nhưng lại thân quen.
Cô chủ quán ăn tự chọn ở Muchen Ichi Ban Asia & Sushi Running auch à là carte Dương Việt Hương kéo chúng tôi vào bàn. Một thanh niên tầm thước bước vào. Hương đứng dậy gọi:
- Anh Ban ơi! Anh Tấn tác giả phim “Về quê”, mẹ đóng đây này.
Ban là chồng Hương, người Sài Gòn, rất ấn tượng với mái tóc húi cua, khuôn mặt trắng trẻo tròn trĩnh phúc hậu tương phản với bộ ria mép đen nhánh nghịch ngợm. Anh sinh viên Nhạc viện Tchaikovsky Hồ Đắc Ban gặp cô sinh viên trường đạo diễn sân khấu Dương Việt Hương tại Liên Xô, yêu nhau và kết hôn.
Khi Liên Xô tan vỡ, khi bức tường Berlin sụp đổ, số phận hai người là bèo dạt mây trôi mỗi người một phương. Rồi họ gặp lại nhau trên nước Đức thống nhất. Qua bao nhiêu gian lao của bước đầu khởi nghiệp, họ dành dụm được một ít vốn mua lại một cửa hàng. “Cũng là một cuộc phiêu lưu” - Ban nói. Làm ăn phải tính toán cân nhắc thật kỹ nhưng cũng không thể loại trừ yếu tố rủi ro.
Nhiều cửa hàng phải đóng cửa, nhưng Ichi Ban ngày càng phát triển và trở thành một cửa hàng ăn nổi tiếng ở Munchen với các món ăn châu Á, với món cơm sushi của Nhật, với thái độ phục vụ không chê vào đâu được. Ichi Ban tiếng Nhật có nghĩa là số một, Number one.
Một cửa hàng nhỏ phục vụ cùng một lúc tối đa chỉ 60 khách nhưng là một cửa hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Dây chuyền ăn tự động, thức ăn bày sẵn ra đĩa, chạy trên băng chuyền trong tủ kính trước mặt khách, để khách – ngồi trong một ngăn riêng biệt - được tự do chọn lựa là một hình thức phục vụ mới, tại Munchen chỉ có ở mươi nhà hàng.
Hương không ngồi với chúng tôi được lâu. Cô còn phải bưng bê. Với những đĩa thức ăn xếp rất nghệ thuật từ bàn tay xoè ra lên tới tận cánh tay, Hương cùng một cô gái nữa – Bùi Việt Thuỳ - lướt nhẹ trên lối đi tới các bàn ăn của “khách ăn món” với nụ cười luôn nở trên môi. Vừa quay về, Hương lại đã bưng ra một khay chuối tẩm bột rán. Cô mở chai cô nhắc, rưới lên khay.
Lửa cháy bùng bùng trên khay. Món chuối tẩm bột rán đốt lửa ăn với mật ong của mấy thực khách bàn bên. Trong khi ấy Thùy đã đưa ra món cơm niêu cho một bàn khác. Còn tại khu vực ăn tự chọn, những đĩa đã ăn, những đĩa thức ăn mới luôn thay thế nhau trong băng chuyền, cái băng chuyền trong khu nhận hành lý ở sân bay nhưng nhỏ hơn nhiều.
Thật vui khi biết cô gái chạy bàn nhỏ nhắn luôn nở nụ cười tươi tắn kia là Bùi Việt Thùy, chẳng những cùng quê Thủy Nguyên với tôi mà còn cùng họ với tôi nữa. Tôi quay sang nói với Bùi Hồng Mạnh, một dân “München chính cống ”, người đã tạm ngừng mọi công việc lại để lái xe cho chúng tôi lang thang trên đất Đức:
- Họ Bùi ta tưởng ít thế mà đông. Đến đâu cũng gặp họ Bùi.
Khách đến Ichi Ban luôn kín chỗ. Những người đến sau kiên nhẫn đứng chờ.
Biên chế của cái khách sạn nhỏ này chỉ có 7 người. 3 người trong bếp (bếp trưởng, phụ bếp và một người đứng máy rửa bát) 2 người làm sushi, và Thùy, Hương. Hương vừa là cửa hàng trưởng vừa là người phục vụ. Luôn luôn là gần 12 giờ đêm mới được ăn cơm. Đang ăn lại có một người khách mang cặp lồng đến, rụt rè đứng cửa vì đã hết giờ bán hàng.
Hương đứng lên ngay. Cô cầm cặp lồng của khách vào bếp. Một suất mitnêmân, mua mang về nhà ăn. Làm ăn tấn tới thật vui, nhưng cũng thật vất vả. Ăn xong, còn làm vệ sinh cọ rửa bằng xà phòng trong bếp, ngoài gian hàng rồi mới về nhà ngủ. Thường về đến nhà đã 12 giờ đêm. Tiêu chuẩn vệ sinh ở đây rất cao. Các mặt thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, nộp bảo hiểm cũng rất cao. Nhất là bảo hiểm. Ban bảo: Để một người có lương tháng 1500 euro thì cửa hàng phải chi trả tới 2300, 2400 euro.
Giờ đây công việc cửa hàng đã vào guồng, Ban chỉ đóng vai trò phụ giúp cho Hương. Anh đã thành lập một Cty xuất nhập khẩu, gồm hơn chục cổ phần và đã nhiều lần về Việt Nam khai thác nguồn hàng, làm một cầu nối với những nhà sản xuất trong nước, đẩy mạnh việc xuất sang Đức:
- Hàng Việt Nam sang Đức vẫn còn ít. Chúng em biết người Đức thích gì. Gốm Việt Nam tiêu thụ được lắm chứ. Đồ gỗ nữa. May mặc. Hàng nông sản, thủy sản… Cái chính là phải sản xuất hàng đúng với thị hiếu tiêu dùng của người Đức và làm tốt công tác tiếp thị. Chúng em có thể giúp những nhà sản xuất trong nước việc ấy. Tiềm năng lớn lắm, nhưng vẫn chưa khai thác được. Rồi còn đưa hàng từ Đức về Việt Nam…
Người Việt ở München khá đông. Tất cả đều chấp hành tốt luật pháp Đức. Kỷ luật Đức là một kỷ luật tự giác. Một ví dụ nhỏ: Đêm khuya, khi tham gia giao thông trên đường phố gặp tín hiệu đèn đỏ, ai cũng dừng lại dù ngoài mình ra chẳng có một ai, dù con đường bật đèn xanh chạy ngang trước mặt không một người đi bộ, không một chiếc xe.
Nước Đức đã tạo những điều kiện tốt nhất cho người Việt làm ăn hoà nhập cũng như đã dành phần phúc lợi của mình cho những người dù chưa nhập quốc tịch Đức được hưởng một cuộc sống bình thường theo tiêu chuẩn châu Âu. Mỗi căn hộ phải đảm bảo có đủ các phòng cho bố mẹ, cho con cái, phòng khách, bếp và nhà tắm, nhà vệ sinh. Tất cả các trẻ em Việt Nam đều được đến trường. Khi một người mẹ mang thai, cái mầm sống ấy được nhà nước Đức tu dưỡng cho đến khi trở thành một thanh niên tốt nghiệp đại học…
Bếp trưởng Thưởng của cửa hàng Ichi Ban có kể cho tôi nghe một câu chuyện về chuyến đi của mẹ anh từ Việt Nam sang Munchen:
- Mẹ em là một bà già ở nông thôn, một mình bay sang đây. Không phải bay thẳng mà bay tới Frankfurt rồi chuyển máy bay, bay tới München. Em gọi điện cho sân bay Frankfurt yêu cầu giúp đỡ. Frankfurt cử một cảnh sát tới sân bay đón cụ. Không những thế, họ còn tìm một phụ nữ Việt Nam tới nói chuyện với mẹ em để mẹ em yên tâm, rồi đưa mẹ em lên máy bay tới Munchen.
Ở Munchen em lại được cấp giấy vào hẳn trong sân bay. Khi mẹ em trở về Việt Nam có vợ con em đi cùng. Vợ con em biết tiếng Đức nên em không phải báo cho sân bay nhờ họ giúp nữa. Nhưng khi tới sân bay Munchen đã có một cảnh sát Đức đón mẹ em rồi. Thì ra họ biết ngày về của mẹ em. Họ còn lấy xe đẩy đưa mẹ em từ phòng chờ ra sân bay và lên thẳng máy bay.
Cách làm việc của người Đức là như vậy. Những Việt kiều bên Đức mà tôi đã gặp từ Berlin tới Potsdam, từ Dresden tới Leipzig, Nürnberg, Munchen đều thích ứng rất tốt với cách sống, cách làm việc ấy và có những người bạn Đức thân thiết. Tôi thừa hưởng tình bạn của họ trong những ngày ngắn ngủi lưu lại München, một tình bạn mà Hương, Ban, Thưởng, Thọ, Thuỳ… những người trong cửa hàng Ichi Ban xây dựng nên. Ông già 82 tuổi Heinz Tische là một trong những người bạn ấy. Ông khách quen của Ichi Ban chỉ vào Thuỳ, nói với tôi:
- Đây là con gái tôi. Tôi có một trăm con gái. Tất cả các cô gái Việt Nam ở Munchen đều là con gái tôi.
Chúng tôi uống bia và nói với nhau chuyện gia đình, chuyện chiến tranh. Với tôi là cuộc chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ, với ông là Đại chiến Thế giới thứ hai, “mỗi ngày được phát 100 gam rượu”, cuộc đại chiến kết thúc năm ông 24 tuổi. Chúng tôi chơi trò thi vật tay với nhau mà phần thắng thuộc về tôi bởi tôi kém ông những 12 tuổi. Một hôm ông bảo tôi: “Đừng cạo râu nhé. Trưa mai tôi sẽ cạo râu cho anh”.
Trưa hôm sau, đúng hẹn, ông đến, mang theo một hộp gỗ dài, bọc vải trắng, rất đẹp. Giở bọc vải, mở nắp hộp gỗ, Heinz Tische rút ra một thanh kiếm sáng loáng đưa lên cằm tôi. Tôi giật mình lùi lại, lấy tay giữ chặt đốc kiếm trong tiếng cười trẻ trung của ông. Hoá ra kiếm rất cùn. Một thanh kiếm chỉ để gỡ sợi dây thép buộc trên đầu các chai sâm banh. Ông vốn là người chào hàng rượu cho các hãng rượu. Thanh kiếm này đã gắn bó với đời ông.
Bên cạnh việc thi hành tốt luật pháp Đức, hoà nhập với cuộc sống Đức, những người Việt ở Đức luôn chú trọng giữ gìn bản sắc văn hoá Việt của mình. Trong buổi tới thăm gia đình chị Việt Nga, chúng tôi thật bất ngờ khi nhìn thấy ở cửa nhà chị rất nhiều giầy dép đủ các loại, đàn ông, đàn bà, người lớn, trẻ em, phải đến mấy chục đôi.
Trong nhà đông như có giỗ. Hỏi ra mới biết các gia đình người Việt theo định kỳ tập trung con em lại để dạy tiếng Việt. Đó là một công việc nhất thiết phải làm và phải kiên trì năm này qua năm khác. Trẻ em Việt học bán trú ở trường Đức, suốt ngày nói tiếng Đức, bạn bè thầy cô toàn người Đức nên rất dễ quên tiếng Việt. (Lúc còn ở Berlin, tại nhà anh Thạch, chị Hoà tôi đã thấy hai anh chị vất vả thế nào trong việc ôn luyện tiếng Việt cho cháu Hoàng Nam, một bé trai 10 tuổi, vậy mà những lúc cần dặn con điều gì, Hoà, Thạch vẫn phải nói tiếng Đức để cháu hiểu thật cặn kẽ những điều mình dặn).
Các cháu học cùng một lớp, không phân biệt lứa tuổi. Kinh nghiệm chỉ ra rằng các cháu 4, 5tuổi tiếp thu nhanh hơn các cháu lứa tuổi lên 10. Và sau lớp học của các cháu là quây quần, trò chuyện. Là vào bếp, là những bữa cơm canh cua rau mồng tơi, mướp, cà pháo mà nguyên liệu đều được mua ở siêu thị. Để các cháu cùng bố mẹ thưởng thức hương vị quê hương.
Ngoài việc dạy chữ, còn những ngày lễ, ngày Tết theo phong tục Việt Nam. (Khi tôi tới Đức ngày lễ Vu Lan đã qua, mọi người đang chuẩn bị đèn lồng, đầu sư tử cho Tết trung thu). Và tín ngưỡng. Năm 2003 ở Kirchseeon, bà con Việt kiều khánh thành chùa Tâm Giác. Mảnh đất bà con quyên góp mua hơn 400.000 mác mãi mới được khởi công.
Chính quyền địa phương không cho nhập bất kỳ một đạo mới nào vào địa phương mình. Chỉ đến khi đọc mục đích xây dựng ngôi chùa, đọc những điều răn của đạo Phật như ngũ giới (không sát sinh, không nói dối, khong ăn cắp, không tà dâm, không uống rượu) tam quy, không tham, sân, si, chính quyền địa phương mới đồng ý cho xây dựng ngôi chùa. Không những thế, còn nhiệt liệt ủng hộ. Bà con nói: Cũng là cơ duyên của Phật.
Chùa tổ chức những buổi giảng kinh, thuyết pháp làm điều lành, tránh điều dữ, triển lãm xá lợi Đức Phật Thích Ca, Ca Diếp… Số người quy y rất đông. Rất nhiều người Đức cũng đến chùa nghe thầy giảng kinh bằng tiếng Đức (thầy biết ba thứ tiếng Đức, Anh, Trung Quốc). Họ hiểu đạo Phật và họ hiểu người Việt chúng ta hơn.
Cuối bài viết này tôi muốn kể một câu chuyện vui về một người Đức tên Man ở Nurmberg. Vâng, cái tên ấy nghe đặc Đức. Như Tômát Man nhà văn Mỹ gốc Đức vậy. Vừa đến Nurmberg, tôi đã nghe nói chúng tôi sẽ đến ở nhà Man. Tất nhiên tôi biết đấy là một người Việt, và nghĩ rằng Man là tên Đức của anh. Cả tên Việt và tên Đức của anh gọi cho đầy đủ đều là Phạm Văn Man. Thấy tôi hỏi về cái tên có vẻ hơi lạ này, anh lục tủ, lấy ra một bức ảnh chụp một tấm bia liệt sĩ ghi tên Trương Công Man và giải thích:
- Năm 1962 bác tôi là Bí thư chi bộ đi xây nghĩa trang liệt sĩ, trong số đó có liệt sĩ Trương Công Man làm liên lạc trong bộ đội, trong trận đánh bốt Tìm bị cháy cả người vẫn chạy đi báo tin cho đơn vị, được nhân dân địa phương coi là anh hùng. Cũng thời gian đó, mẹ tôi sinh tôi. Bác tôi làm giấy khai sinh cho tôi nói: Vừa xây mộ Trương Công Man xong thì cứ đặt tên nó là thằng Man.
Man đã tốt nghiệp Đại học Đường thuỷ, dạy trung học giao thông vận tải rồi được cử đi Tiệp lao động, nhưng hoá ra chỉ là đi sửa phanh tầu hoả ở thành phố Plzen. Năm 1991, theo dòng thời cuộc, cuốn theo chiều gió, anh sang Đức kiếm sống. Hamburg, Dusseldorf thuộc khu công nghiệp Rhei Rhur nổi tiếng. Rồi đi Pháp, Hà Lan. Cuối cùng lại về Đức, tới Futh rồi chuyển thẳng về Nurmberg.
Trong một lần đứng chờ xe buýt trên bến, anh thấy một phụ nữ Đức trên xe buýt toan bước xuống nhưng cứ loay hoay với chiếc xe nôi, trong xe có một cháu bé chừng ba tháng, không xuống được. Man nhanh nhẹn giúp người phụ nữ, nhấc bổng xe nôi lên, đặt xuống đường. Người phụ nữ Đức cám ơn anh và hỏi anh người nước nào. Anh trả lời: Việt Nam. Không ngờ chị reo to “Việt Nam!” và cất cao tiếng hát:
- Việt Nam - Hồ Chí Minh! Việt Nam - Hồ Chí Minh…
Thì ra chị đã dự đại hội liên hoan thanh niên thế giới ở Mátxcơva năm 1980. Trong khi cùng ngồi chờ xe buýt đi tuyến mới hai người trò chuyện.
- Anh tên là gì?
- Man.
Tiếng Đức, chứ Man có hai chữ n có nghĩa là đàn ông (mann).
- Tôi hỏi tên anh là gì cơ mà.
- Tên tôi là Man.
- Tôi biết anh là đàn ông rồi - Người thiếu phụ Đức vừa nói vừa cười.
Chỉ đến khi Man lấy bút viết chữ Man ra lòng bàn tay, chị ta mới hiểu.
Man kể:
- Ngày ấy tiếng Đức tôi còn kém, lẽ ra hỏi đứa bé là con trai hay con gái thì lại hỏi đàn ông hay đàn bà. Chị ta vạch tã, chỉ vào chim thằng bé và nhìn tôi: “Man!” Hai người được một mẻ cười.
Anh kết luận:
- Người Đức rất đáng yêu. Như người Việt chúng ta rất đáng yêu. Cái chính là làm thế nào để thực sự hiểu nhau.
Từ biệt Man, tiếp tục cuộc hành trình, biết rằng không gặp lại nhau trước khi tôi về Việt Nam, Man nắm tay tôi:
- Chúc bác mạnh khoẻ. Viết được nhiều. Bác về nói với Hội Nhà văn giúp chúng tôi giữ lấy sự trong sáng của tiếng Việt. Văn chương hiện nay ngôn ngữ chợ giời nhiều quá.
Thật là một lời nhắn bất ngờ của một Việt kiều cách xa Tổ quốc nửa vòng trái đất. Và bởi vì là lời nhắn của một người cách xa nửa vòng trái đất nên tôi thấy cần phải viết nó ra đây.
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
Theo Tien Phong Online.

