"Ông bà cử" thất nghiệp nhiều hơn: Điều dễ hiểu
Những người có trình độ CĐ trở lên thất nghiệp nhiều hơn so với không có bằng cấp, là hệ quả của chính sách cởi mở trong tuyển sinh CĐ, ĐH.
Bằng cấp cao, thất nghiệp cao?
Trong bản tin cập nhật thị trường lao động quý I/2015 của Viện khoa học lao động và xã hội vừa được công bố, có chỉ rõ, trong 3 tháng đầu năm, cả nước có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp, tăng 114.000 người so với cùng kỳ năm 2014. Con số đáng quan tâm đó là, tính theo trình độ chuyên môn, tỷ lệ thất nghiệp cao nhất nằm ở nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề; tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất nằm ở nhóm không có bằng cấp, chứng chỉ.
Trước thực trạng càng học lên bằng cấp cao thì tỷ lệ thất nghiệp lại càng lớn, trao đổi với Đất Việt, ngày 21/7, ông Nguyễn Anh Đức - Chủ tịch, Tổng giám đốc Smartcom, cho biết: "Cơ cấu lao động của Việt Nam có xu hướng dịch chuyển mạnh từ chỗ không qua đào tạo sang chỗ đã được đào tạo, có tay nghề và có trình độ cao hơn.
Thế nhưng, khi nền kinh tế qua một giai đoạn khó khăn kéo dài thì rõ ràng tỉ lệ thất nghiệp ở mọi lĩnh vực đều tăng chứ không riêng gì đối với người có trình độ, tay nghề hay là lao động không có bằng cấp. Nó không phản ánh việc học càng cao thì càng thất nghiệp. Chúng ta nhìn con số và cái tên thuần túy sẽ khiến chúng ta hiểu lầm và lo lắng.
Một thị trường lao động được đào tạo, có kiến thức hơn thì rõ ràng là một thị trường lao động có chất lượng hơn. Điều đó ta phải lấy làm mừng và tự hào".
Ông Đức cho rằng, nguyên nhân của vấn đề này do cả chủ quan và khách quan. Về khách quan mà nói, nền kinh tế Việt Nam trải qua một thời kỳ khủng hoảng kéo dài, và gần đây mới có chút dấu hiệu hồi phục. Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể trong các năm 2013, 2014 tăng rất mạnh, các doanh nghiệp còn tồn tại thì ít nhiều đều phải cắt giảm quy mô sản xuất, kéo theo cắt giảm quy mô nhân sự, hoặc chí ít thì cũng tuyển dụng ít đi.
Khu vực bị cắt giảm mạnh nhất trong những năm vừa qua là bất động sản, xây dựng, tài chính ngân hàng, dịch vụ. Đây là những ngành có sức cầu lớn nhất đối với nhân sự ở trình độ cao đẳng và đại học nói chung.
Chưa kể, sức sản xuất của nền kinh tế suy giảm, kéo theo sức cầu đối với lao động tốt nghiệp các trường cao đẳng nghề chuyên nghiệp cũng tụt xuống thấp. Khi sức cầu lao động trong nền kinh tế nói chung là giảm, dẫn đến sự ảnh hưởng trực tiếp tới nhóm lao động ở trình độ cao đẳng, đại học và thạc sĩ, đối tượng đầu vào chính của các doanh nghiệp.
Nếu so sánh tỉ lệ tăng trưởng GDP trong giai đoạn từ 2011 đến nay chỉ ở mức trên 5% với giai đoạn trước năm 2011 khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh ở mức trung bình khoảng 7%; mà giai đoạn 2011 – 2015 là giai đoạn Việt Nam có thêm nhiều cử nhân cao đẳng, đại học và cả thạc sĩ hơn bất cứ giai đoạn nào trước đó gia nhập thị trường lao động thì việc dư thừa lao động có đào tạo là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Những năm gần đây, những sản phẩm đó đã tốt nghiệp và ra nhập thị trường lao động, thì họ trở thành những người thất nghiệp “đã qua đào tạo” chứ không phải là những người thất nghiệp “không được đào tạo” như ở thời kỳ còn thắt chặt đối với đào tạo đại học, cao đẳng và thạc sĩ.
|
|
Tỷ lệ học ĐH, CĐ thất nghiệp nhiều hơn tỷ lệ người không có bằng cấp |
Chính vì thế, tỉ lệ thất nghiệp của người có trình độ cao đẳng trở lên tăng cao hơn so với tỉ lệ người không có bằng cấp, chứng chỉ là hệ quả của chính sách cởi mở trong tuyển sinh cao đẳng, đại học và cao học mà thôi.
Và xét dưới góc độ cá nhân của những người lao động mà nói, khi đã được đào tạo và cũng đã đầu tư một khoản tiền nhất định để có được bằng cấp, chứng chỉ, thì dĩ nhiên họ cũng khó chấp nhận những công việc giản đơn, thu nhập thấp, nên khi mới tốt nghiệp họ chấp nhận một khoảng thời gian thất nghiệp nhất định để tìm kiếm cơ hội cũng là điều có thể hiểu được.
Còn những người không qua đào tạo thì không bao giờ kén chọn công việc. Họ sẵn sàng và chấp nhận làm bất cứ việc gì cho họ thu nhập, nên họ nhanh chóng xóa tên mình khỏi danh sách thất nghiệp hơn.
"VN đã đi sau, lại còn đi chậm"
Nhìn ra các nước khác cũng có nền giáo dục xuất phát từ Nho giáo như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông Đức so sánh: "Chúng ta nói tới Nhật Bản, Hàn Quốc là nói tới các nước có nền kinh tế hoàn toàn theo cơ chế thị trường. Các trường đại học của họ sống theo cơ chế thị trường từ rất lâu rồi, nên sản phẩm đào tạo của họ rất tốt, hoàn toàn đáp ứng nhu cầu thị trường, và là đầu vào tốt cho các doanh nghiệp ở các nước họ.
Nhưng thực tế là số người thất nghiệp của họ cũng có nhiều, và người thất nghiệp có bằng cao đẳng và đại học luôn chiếm tỉ lệ lớn, vì đơn giản là lực lượng lao động của họ hầu hết đã qua đào tạo. Việc thất nghiệp không phải là vì được đào tạo hay không nữa, mà là vì nền kinh tế có đủ công việc cho tất cả mọi người hay không mà thôi.
Có một điều mà tôi rất muốn chia sẻ đó là việc đào tạo nâng cao trình độ của các doanh nghiệp Hàn Quốc hiện nay được thực hiện rất mạnh mẽ. Các doanh nghiệp lớn của Hàn Quốc luôn nêu cao việc học tập liên tục".
Theo ông Đức, doanh nghiệp lớn ở Hàn Quốc luôn có thư viện và thư viện của họ luôn sáng đèn tới khuya, thu hút gần như 100% nhân sự của họ tới đọc sách. Nhân sự cấp thấp đọc khoảng một vài chục đầu sách, nhân sự cấp cao hơn thì đọc và am hiểu cả trăm đầu sách.
Mặt khác, hiện nay các thương hiệu Hàn Quốc đang lấn sân các thương hiệu lớn của Nhật Bản ở nhiều ngành quan trọng. Ví dụ như ngành điện tử, một ngành là thế mạnh gần như tuyệt đối của Nhật Bản trước kia trên toàn thế giới, thì ngày nay vị thế dẫn đầu của ngành này rơi vào tay Hàn Quốc rồi.
Chắc giờ này ta rất khó tìm nổi một chiếc TV hiệu JVC của Nhật mà chỉ cách đây chưa đầy 2 thập kỷ nó xuất hiện ở mọi nhà. Hoặc giờ cho chọn giữa một chiếc điện thoại Samsung và một chiếc Sony hay Sharp thì bạn chọn cái nào? Sự vươn lên mạnh mẽ của Hàn Quốc là do họ chịu học, và học hỏi không ngừng, luôn nỗ lực hết sức để hoàn thiện kỹ năng.
"Ở Hàn Quốc, khái niệm làm việc 8 tiếng không tồn tại, họ làm nhiều hơn 10h mỗi ngày, và sau đó họ tiếp tục ở lại để đọc và để học. Cái này mới đáng suy ngẫm và đáng học hỏi cho chúng ta. Chúng ta đã đi sau, lại còn đi chậm, chưa kể sở thích nghỉ chân tùy tiện!", ông Đức nhận định.
Giải pháp là...
Trước tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng cao, ông Đức nói: "Chính là chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng và đại học khiến các cử nhân, kỹ sư chất lượng không cao khiến tỉ lệ thất nghiệp nhiều. Dĩ nhiên là góc nhìn đó có lý.
Nhưng tỉ lệ thất nghiệp cao và loại lao động thất nghiệp hiện nay không hoàn toàn là do chất lượng đào tạo, mà một phần lớn là do sức cầu lao động thấp. Nếu nhìn vào thị trường chứng khoán những năm bùng nổ thì sẽ thấy họ thu hút một lượng nhân sự khổng lồ.
Các công ty chứng khoán cực kỳ dễ tính trong việc tuyển dụng, họ tuyển tất cả những ai tốt nghiệp các ngành tài chính, ngân hàng, hay các chuyên ngành kinh tế nói chung... thậm chí tuyển cả sinh viên chưa tốt nghiệp vào làm.
Nhân sự chưa có chất lượng đầu vào đủ đáp ứng công việc thì họ đào tạo. Và hệ quả tất yếu là các khóa đào tạo về nghiệp vụ chứng khoán ngắn ngày nở rộ ở khắp các thành phố lớn. Đó là do sức cầu nhân sự quá lớn.
Chính vì thế, ông Đức cho rằng: "Giải pháp ở đây nằm ở sức tổng cầu lao động của cả nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng trở lại thì dĩ nhiên nhu cầu tuyển dụng sẽ tăng, và lúc đó những người có bằng cấp là những người ưu tiên được tuyển dụng chứ không phải là những người không có bằng cấp hay chưa qua đào tạo. Và để giải quyết căn nguyên vấn đề tổng cầu lao động thì rõ ràng đó là vai trò điều hành nền kinh tế của Chính phủ".
Càng đi ra các nước nhiều, càng tiếp xúc với đội ngũ nhân sự, bản thân ông mới thấy thái độ tận tụy vượt quá sức tưởng tượng của họ đối với công việc, tôi thực sự có cảm giác lo lắng khi so sánh với lực lượng lao động của hiện tại và tương lai ở Việt Nam.
"Tôi chắc chắn rằng họ tận tụy với công việc không phải là vì tình yêu công việc hay yêu lao động đâu, mà là vì sức ép từ thị trường. Doanh nghiệp của họ nếu làm chậm hơn, kém hơn là sẽ bị đào thải, cho nên họ quản trị rất tốt nguồn lao động của mình và yêu cầu cao hơn đối với người lao động. Đến lượt mình, người lao động phải luôn nỗ lực hơn nữa, vì họ thừa biết có hàng chục, thậm chí là hàng trăm người đang trong danh sách chờ của phòng nhân sự có thể sẵn sàng thay thế họ bất cứ lúc nào", ông khẳng định.
Thanh Huyền

