VN thiếu than vẫn làm nhiệt điện: Tính kiểu "con nhà nghèo"
Việt Nam xây dựng quy hoạch dựa trên hiện trạng chưa tính những yếu tố phát triển bền vững.
Hầu như không còn cơ hội mua mỏ
Theo Quy hoạch phát triển ngành than và ngành điện (Quy hoạch điện VII) cho giai đoạn 2011 - 2020, có xét triển vọng đến 2030 thì nhu cầu than để sản xuất điện vào năm 2020 là 78 triệu tấn/năm, trong khi ngành than trong nước chỉ có khả năng cung cấp 30 triệu tấn, thiếu 48 triệu tấn/năm. Đến năm 2030, khả năng cung cấp than cho điện là 35 triệu tấn trong khi lượng than yêu cầu tới 170 triệu tấn/năm, thiếu hụt 135 triệu tấn/năm. Than trong nước không đủ cung cấp để sản xuất điện và ngành điện mới chỉ tính đến nhập khẩu than như là cứu cánh tất yếu.
|
| Đến nay Việt Nam mới có nhu cầu và ý tưởng mua lại mỏ thì đã chậm và có thể không còn cơ hội nữa |
Tuy nhiên, TS Ngô Tuấn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng khoa học, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Năng lượng (Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam) cho rằng, việc mua than của nước ngoài hiện nay vẫn là bài toán chưa có lời giải dù Chính phủ đã giao cho Bộ Công thương, Vinacomin nghiên cứu cách đây nhiều năm.
"Các nước xuất khẩu than đang có xu hướng đẩy mạnh sử dụng than trong nước, giảm nhập khẩu, nên rất có thể thị trường xuất khẩu than sẽ bị co hẹp, than sẽ trở nên khan hiếm hơn. Ví dụ như Indonesia, sản lượng than khai thác năm 2010 dự kiến là 216 triệu tấn, chỉ xuất khẩu 107 triệu tấn, để chi dùng trong nước là 116 triệu tấn, so với năm 2008 đã giảm xuất khẩu tới 66 triệu tấn.
Trung Quốc là nước có trữ lượng và khai thác than lớn nhất thế giới. Năm 2008, Trung Quốc khai thác 2,7 tỷ tấn than, cũng là nước xuất khẩu than lớn, năm 2003, 2004 đã xuất khẩu 81 triệu tấn và đây cũng là đỉnh cao xuất khẩu than của Trung Quốc. Với tiềm lực kinh tế và dự trữ ngoại tệ của mình, Trung Quốc có xu hướng giảm xuất khẩu than, tăng nhập khẩu than. Từ năm 2005, đã giảm xuất khẩu rất nhanh, từ 81 triệu tấn năm 2004 xuống còn 7 triệu tấn năm 2008, tăng nhập khẩu từ rất ít những năm 2002, 2003, lên 45 triệu tấn năm 2007.
Nếu Trung Quốc thực hiện chính sách hạn chế khai thác than trong nước, đẩy mạnh nhập khẩu than thì với nhu cầu 2,7 tỷ tấn than/năm, Trung Quốc có thể khống chế toàn bộ thị trường than của thế giới. Những nước phát triển như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, Anh… cũng đẩy mạnh nhập khẩu than. Mỹ là nước có trữ lượng than lớn cũng là nước xuất khẩu than nhưng những năm gần đây cũng đẩy mạnh nhập khẩu than.
Để nhập khẩu than có chất lượng, nguồn cung ổn định các nước nhập khẩu năng lượng như Nhật Bản, Hàn Quốc... đã xúc tiến việc nhập khẩu than từ hàng chục năm trước với việc đầu tư mua mỏ ở các nước Úc, Indonesia. Đến nay Việt Nam mới có nhu cầu và ý tưởng mua lại mỏ thì đã chậm và có thể không còn cơ hội nữa".
Ngay cả khi nhập khẩu được than, TS Ngô Tuấn Kiệt cũng cho rằng Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Cụ thể, than nhập khẩu theo đường biển bằng những tàu trọng tải lớn nên chỉ thích hợp với những nhà máy điện ở ngay bờ biển và có cảng nước sâu, ví dụ như nhà máy điện Vân Phong (Khánh Hòa), Vũng Áng (Hà Tĩnh).
Những nhà máy điện ở sâu trong đất liền hoặc không có cảng nước sâu thì cần có các cảng trung chuyển từ tàu lớn sang sà lan có trọng tải nhỏ hơn (từ 5.000 đến 10.000 tấn) và phải thường xuyên nạo vét luồng lạch để bảo đảm lưu thông. Ngoài ra, khi có nhiều chủ đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện than thì dễ sinh ra nhiều đầu mối nhập khẩu than và có thể có vấn đề cạnh tranh".
Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Năng lượng cho rằng, vừa qua Quy hoạch điện VII mới tập trung vào quy hoạch nhà máy nhiệt điện than trong khi chưa xem xét đến nguồn cung cấp than từ đâu.
Theo Quy hoạch điện VII, năm 2020, nhiệt điện than chiếm 48% trong cơ cấu nguồn điện và 51,6% vào năm 2030 trong khi bài toán nhập khẩu than cho điện sau 5 năm xây dựng quy hoạch vẫn chưa có lời giải.
Điều cần lưu ý là cho đến nay sau gần 8 năm kể từ khi có quyết định số 1855/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050 (ngày 27/12/2007),Việt Nam vấn chưa có quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống lớn năng lượng. Chúng ta vẫn chỉ quy hoạch phát triển các ngành dầu khí, quy hoạch phát triển than, điện, gần đây làm làm quy hoạch phát triển một số phân ngành năng lượng khác. Đây chính là điểm yếu trong xây dựng chiến lược và chính sách năng lượng cần sớm khắc phục.
"Phải xây dựng cho được quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống lớn năng lượng Việt Nam có tính đến các yếu tố an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Trên cơ sở phương pháp tiệm cận tiên tiến, khoa học đồng bộ chúng ta cần xác định cho được tỷ trọng khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng sơ cấp: than, dầu khí, thuỷ năng, điện hạt nhân và đặc biệt là các nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam.
Cần làm rõ ưu tiên phát triển các nguồn nào có thể thay thế được nhiên liệu hoá thạch, giảm nhập khẩu than. Cần xác định đúng được vai trò của các nguồn NLTT có triển vọng như điện gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh khối, trong đó ưu tiên phát triển các nguồn có khả năng thay thế được nhiên liệu hoá thạch.
Khác với điện gió, điện mặt trời bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điện sinh khối có thể dự trữ được và nếu có quy hoạch tốt nguồn năng lượng sinh khối sẽ cho phép giảm nhập khẩu than. Hội nghị năng lượng sinh khối toàn quốc gần đây đã khẳng định Việt Nam cần sớm nghiên cứu xây dựng quy hoạch phát triển năng lượng sinh khối thay thế nhiên liệu hoá thạch đang dần cạn kiệt ở nước ta.
Nhập khẩu than với khối lượng khổng lồ hiện nay không chỉ là bài toán khó mà còn có ảnh hưởng lớn đến an ninh năng lượng quốc gia cần tìm giải pháp hợp lý giảm nhập khẩu. Trong đó giải pháp mở rộng tìm kiếm thăm dò khai thác mỏ mới cần được chú trọng, đặc biệt là nguồn vốn.
Ví dụ ngành than nếu đầu tư thăm dò khai thác bể than Đồng bằng sông Hồng với trữ lượng hàng trăm tỷ tấn cần vốn đầu tư khổng lồ 30-40 tỷ USD chưa biết lấy từ đâu, công nghệ khai thác thế nào, giải quyết vấn đề tác động môi trường ra sao...Đó là một bài toán tổng thể Việt Nam phải giải", ông Kiệt nhấn mạnh.
Nhà đầu tư BOT làm khác Việt Nam
Theo TS Ngô Tuấn Kiệt, cách làm của các nhà đầu tư dự án nhiệt điện BOT tại Việt Nam hoàn toàn khác.
"Các công trình nhiệt điện than là những dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài. Nhiệt điện than khác các cơ sở sản xuất điện khác ở chỗ công nghệ phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu, loại than nào thì công nghệ ấy. Trong suốt vòng đời hoạt động, nếu nhà máy thay đổi chủng loại than thì phải thay đổi công nghệ, kéo theo chi phí đầu tư cải tạo lớn, giá điện sẽ tăng lên. Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ ra hàng tỷ USD đều tính toán rất kỹ bài toán kinh tế. Vì vậy, chủ đầu tư nhiệt điện BOT bao giờ cũng tính đến việc đảm bảo được nguồn than rồi mới tính đến chuyện xây nhà máy.
Tại sao chủ đầu tư Nhiệt điện Hải Dương ký hợp đồng cung cấp than với Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) trong 25 năm? Đó là vì vòng đời kinh tế của nhà máy nhiệt điện là 25 năm, nếu Vinacomin đảm bảo nguồn than cho Nhiệt điện Hải Dương trong suốt thời gian này thì công nghệ của nhà máy sẽ ổn định liên tục. Sau khi đảm bảo được nguồn than, họ tính toán sử dụng trang thiết bị, công nghệ thế nào, đàm phán giá điện...Khi đảm bảo chắc chắn có lãi, doanh nghiệp mới đầu tư. Đây cũng là lý do khiến chủ đầu tư nhiều dự án nhiệt điện BOT ở Việt Nam chậm khởi công xây dựng nhà máy hàng năm trời", ông Kiệt dẫn giải.
Bởi lâu nay Việt Nam thường đơn giản hóa công tác quy hoạch, nên điều đầu tiên cần thay đổi chính là cách nhìn.
"Bài toán quy hoạch là bài toán quyết định hiệu quả kinh tế, sự phát triển bền vững của mỗi ngành. Thông thường, các nước làm quy hoạch tổng thể và quy hoạch đó xuyên suốt các thời kỳ lãnh đạo, ai lên cũng cố gắng làm sao để thực hiện chiến lược đó một cách tốt nhất.
Ngành năng lượng kết hợp nhiều ngành khác nhau, nên làm quy hoạch khó hơn và càng đòi hỏi phải chuẩn xác khách quan đồng bộ. Từ quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống năng lượng quốc gia chúng ta cụ thể hoá cho quy hoạch phát triển các ngành "con" như than, điện dầu khí, thủy điện, nhiệt điện...
Nhiều cán bộ tâm huyết với sự phát triển bền vững hệ thống năng lượng quốc gia cho rằng, Việt Nam cần sớm có một cơ quan như ủy ban năng lượng quốc gia trực thuộc Chính phủ với nhiệm vụ giải quyết bài toán phát triển bền vững hệ thống năng lượng Việt Nam. Cơ quan này phải tính toán, căn cứ vào năng lực của từng ngành để đưa ra phương án phát triển, cơ chế chính sách đầu tư, xác định giá năng lượng phù hợp.
Ví dụ, than nội địa không đủ cho điện thì phải phát triển điện gió, điện mặt trời, năng lượng sinh khối mà Việt Nam chủ động được tối đa, sau đó mới tính đến chyện nhập điện, nhập than của nước ngoài.
Hiện nay có thể do thiếu vốn, hoặc nóng vội, nên quy hoạch năng lượng của Việt Nam hiện nay giống như con nhà nghèo giật gấu vá vai, chưa đầu tư được cho tương lai, chưa có cơ chế và giải pháp phát triển bền vững, giành tài nguyên cho tương lai", TS Ngô Tuấn Kiệt cho biết.
-
Thành Luân

