Chia sẻ:FacebookZalo

Một bài thơ từng dạy về “tình đoàn kết với Việt Nam” đã trở thành nỗi ám ảnh của một đứa trẻ có cha đang ở giữa chiến tranh. Với Angelika Nguyễn, Việt Nam chưa bao giờ là nơi xa xôi, mà là khoảng cách chia cắt gia đình và nguồn gốc của những năm tháng bị kỳ thị ngay trên “đất nước anh em”. Bài viết hé lộ mặt trái ít được nói đến: giữa khẩu hiệu và thực tế là những vết thương kéo dài suốt cả đời.

 Có những bài thơ được viết ra để nói về lòng trắc ẩn. Nhưng cũng có những bài thơ, dù nói về nỗi đau của người khác, lại vô tình chạm vào vết thương chưa bao giờ lành của một con người cụ thể.

1 Khi Viet Nam Khong He Xa Ky Uc Dau Don Cua Mot Dua Tre Lon Len Giua Chien Tranh Va Dinh Kien

Ảnh minh họa - © Báo điện tử tin tức VIỆT ĐỨC

Trong khi hàng triệu học sinh Đông Đức từng đọc câu hỏi “Má ơi, Việt Nam có xa không?” như một biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế, thì với Angelika Nguyễn, Việt Nam chưa bao giờ là một nơi xa xôi. Đó là nơi cha bà đang ở giữa chiến tranh.

 Là khoảng cách chia cắt gia đình. Và là cái cớ khiến một đứa trẻ phải lớn lên trong cô độc, bị gọi là “kẻ khác biệt” ngay chính trên “đất nước anh em”.

Bài viết trên tạp chí Neue Berliner Illustrierte (NBI) không chỉ kể lại số phận của những đứa trẻ Việt Nam trong chiến tranh, mà còn bóc tách một sự thật khó nói: giữa những khẩu hiệu đoàn kết và thực tế đời sống là một khoảng cách lạnh lẽo. 

Ở đó, nỗi đau không đến từ bom đạn, mà đến từ ánh nhìn, lời nói và ký ức kéo dài suốt nhiều thập kỷ.

Đây không chỉ là câu chuyện của một gia đình. Mà là một lát cắt thầm lặng về chiến tranh, về di sản của ý thức hệ, và về những đứa trẻ không bao giờ có cơ hội được “giống như những đứa trẻ khác”. 

Báo điện tử Tin tức VIỆT ĐỨC xin giới thiệu tới bạn đọc một góc nhìn chân thực và đầy ám ảnh về những ký ức chiến tranh, nơi khẩu hiệu không thể che lấp được nỗi đau con người.

2 Khi Viet Nam Khong He Xa Ky Uc Dau Don Cua Mot Dua Tre Lon Len Giua Chien Tranh Va Dinh Kien

Ảnh tác giả: Angelika Nguyễn

Một bài viết về những đứa trẻ Việt Nam chịu khổ vì chiến tranh trên tạp chí Neue Berliner Illustrierte (NI)

 

Xuất phát từ nhan đề của một bài thơ: "Má ơi, Việt Nam có xa không?" từng được đưa vào sách giáo khoa ở các trường học CHDC Đức (Đông Đức) những năm 1960 trong nhiều năm. Và tôi ghét nó.

Tác giả bài thơ là Fritz Räbiger, một người viết thành lời cho nhạc nhảy Schlager.

Sự đối lập giữa hình ảnh mẫu mực được dựng lên trong bài thơ và thực tại đời sống của tôi chỉ là một trong nhiều nguyên nhân khiến bài thơ ấy trở thành nỗi đau. 

Bài thơ kể về một đứa trẻ Đông Đức hỏi mẹ về một đất nước xa xôi đang có chiến tranh mang tên Việt Nam, rồi dẫn dắt một cách đơn giản hóa thông điệp đoàn kết quốc tế: 

“Mẹ ơi, mẹ khóc, Việt Nam gần đến thế sao?”. 

Nhưng với tôi, đó không phải một câu hỏi tượng trưng. 

Cha tôi thực sự đang ở trong cuộc chiến tranh Việt Nam. 

Ở nhà, tôi chưa bao giờ phải hỏi Việt Nam xa đến đâu.

Chính khoảng cách ấy đã quyết định cuộc sống của chúng tôi, và khiến nó trở nên khắc nghiệt. Nếu có ai phải khóc, thì không phải nhân vật tưởng tượng trong bài thơ, mà là mẹ tôi và tôi ở Đông Berlin cùng với cha tôi ở Hà Nội.

Một bài thơ “đặt hàng” và khoảng cách của tuyên truyền:

Bài thơ ấy là sản phẩm được đặt hàng. Sự phản đối chiến tranh Việt Nam được thể hiện rất khác nhau giữa hai khối chính trị. Ở phương Tây, phong trào phản chiến đến từ bên dưới. Ở phương Đông, nó đến từ phía trên.

Trong CHDC Đức, đó là một phần của chính sách nhà nước: vừa chống phương Tây, vừa thể hiện tình đoàn kết với một quốc gia đồng minh. Nhưng tất cả đều được điều khiển từ trên xuống. Vì vậy, ở đó không tồn tại một nền văn hóa phản chiến thực sự được sống bằng trải nghiệm cá nhân, cũng không có sự đồng cảm tự thân, càng không phải là thứ được nuôi dưỡng từ đau khổ thật sự của con người.

Hệ quả là một khoảng cách với chính những gì được tuyên bố từ phía trên, kể cả tinh thần quốc tế, vốn rốt cuộc chỉ là một lời khẳng định. Cấu trúc khép kín về ý thức hệ, kinh tế và tinh thần của CHDC Đức đã hoàn tất sự cô lập lãnh thổ bằng việc xây Bức tường Berlin năm 1961.

khi viet nam khong he xa ky uc dau don cua mot dua tre lon len giua chien tranh va dinh kien tin tuc viet duc

Ảnh minh họa - © Báo điện tử tin tức VIỆT ĐỨC

 

Những câu hỏi không có điểm bắt đầu:

  • Mọi chuyện bắt đầu từ khi nào?
  • Năm 1956, khi cha mẹ tôi gặp nhau ở Hà Nội.
  • Năm 1957, khi mẹ tôi bị đưa trở lại Đông Đức như một hình phạt.
  • Năm 1961, khi tôi ra đời.
  • Năm 1967, khi cha tôi vào bộ đội tham chiến ở Việt Nam.

Hay năm 1968, khi ngay ngày đầu đi học, tôi bị bạn cùng lớp dồn vào góc và đồng thanh gọi là “người Tàu”?

Làm sao có thể đối diện với nỗi sợ kéo dài suốt những năm tháng học đường? Sợ nói sai, nhìn sai, bởi tôi biết mọi chuyện rồi cũng quay về một điểm: những tiếng cười nhếch mép, những lời nhận xét, những câu xúc phạm.

Ngay cả những buổi sinh hoạt “đoàn kết với Việt Nam” trong trường diễn ra rất thường xuyên cũng có thể trở thành điều méo mó, xa lạ.

Hai mặt trận của một đứa trẻ:

Trong khi cha tôi đóng quân ở Hà Nội, tôi phảibđấu tranh ở “đất nước anh em” trên hai mặt trận: chống lại sự hành hạ của những đứa trẻ khác và chống lại những áp phích, khẩu hiệu, bài hát mang thông điệp cảm thông mà đời sống thực tế lại không hề phản chiếu.

Tôi vẫn là một học sinh bình thường của Đông Đức. Những “cuộc tàn phá” nhỏ đôi khi chỉ kéo dài vài phút, rồi mọi thứ lại tiếp tục như không có gì xảy ra: chơi đùa hoặc học tiếp.

Ở Blankenburg thuộc vùng Harz, người ta gọi tôi là “đứa bé Tàu”. Ở Berlin, là “con lai”. 

Mỗi kỳ nghỉ hè ở biển Baltic, những bữa ăn trong khu nghỉ dưỡng của Liên hiệp công đoàn Đức (FDGB) luôn kèm theo những ánh nhìn soi xét từ các gia đình Đông Đức. 

Trong một chuyến tàu điện ở Dresden là một cuộc đối đầu với một ông già chửi bới. Ở sân trường là những trận đánh nhau. Và năm 1970, là một cuộc rượt đuổi dọc tuyến xe điện số 63 ở Alt-Hohenschönhausen.

Cái nhìn về “sự khác lạ”:

Sự thiếu tự nhiên trong cách đối xử với cái khác biệt, cùng thói quen biến nó thành một hiện tượng để quan sát tập thể, cho đến nay vẫn là một nét đặc trưng của xã hội Đông Đức. Đó là một phần của tâm thế nơi sự cô lập lãnh thổ khiến những nghi kỵ truyền thống được nuôi dưỡng theo cách riêng và truyền lại cho trẻ em.

Ký ức không thể xóa:

Trong buổi họp lớp năm 2003, tôi nói chuyện khá thân thiện với Bernd K. và Karin T., như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Với họ, đúng là không có gì cả. Chỉ có tôi còn nhớ.

Khi đang chơi trốn tìm, Karin từng nói cô ấy không muốn chơi với “những đứa như tôi”. Trong giờ địa lý nói về châu Á, Bernd quay sang tôi, cười nhăn nhở và kéo mắt mình thành khe hẹp.

Nhưng cũng có người đứng về phía tôi. Cô Fichte, giáo viên thể dục, đã nghe rõ một lời lăng mạ và phản ứng của cô còn dẫn tới cuộc tranh luận về các phòng hơi ngạt của phát xít. Một vài bạn học khác cũng kinh ngạc. Và mẹ tôi, người luôn như một con sư tử cái mỗi khi điều đó xảy ra.

Nhưng ngay cả sự bảo vệ ấy cũng khiến tôi bị tách biệt thêm.

Mong muốn được giống như mọi người:

Một đứa trẻ trước hết chỉ muốn được giống như những đứa trẻ khác. Tôi thì không có điều đó. Mỗi ngày tôi đều bị nhắc rằng mình khác biệt. Tôi không thể giả vờ như không có gì.

Trong lớp có một cô bé tên Beate Lehmann: má lúm đồng tiền, mũi thanh tú, tóc vàng nhạt, mắt xanh xám. Cô bé rất dễ mến.

Tôi từng muốn được như Beate Lehmann. Muốn có mái tóc sáng, đôi mắt sáng, cái tên giống như cô ấy. Không ai ngập ngừng khi gọi tên cô, không ai hỏi cô từ đâu đến, không ai nhìn chằm chằm hay chế giễu cô.

Beate Lehmann giống như một dạng “thiên đường thuần khiết” trong trí tưởng tượng của tôi, nơi tôi không bao giờ thuộc về.

Những hồ sơ và câu chuyện bị chia cắt:

Có những câu hỏi không thể tìm trên Google.

Tôi ngồi trước những tập hồ sơ cũ dầy cộp từ: thư từ, bài báo cắt rời, giấy chứng tử, đơn xin đoàn tụ gia đình, giấy phép nhập cảnh vào CHDC Đức, điện tín, hợp đồng lao động, giấy báo học phí nhà trẻ, sao kê ngân hàng, bưu thiếp, và một cuốn sổ tay từ năm 1956.

Năm đó, Việt Nam có một khoảng ngừng ngắn giữa hai cuộc chiến. Mẹ tôi, với tư cách phiên dịch viên của Đông Đức, sang Việt Nam làm việc chín tháng. Khi tham gia xây dựng Bệnh viện hữu nghị Việt Đức ở Hà Nội, bà yêu một bác sĩ người Việt.

Giữa “tình đoàn kết xã hội chủ nghĩa”, hai con người đã đến với nhau. Ban đầu bí mật. Khi mẹ tôi mang thai và cả hai xin kết hôn, bà bị ép trở về Đông Đức.

Sau một quá trình đấu tranh với chính quyền hai nước, bà được quay lại Việt Nam để kết hôn. Nhưng ngay sau đó lại phải rời về Đông Đức, còn cha tôi phải ở lại Hà Nội. Bộ trưởng Y tế Việt Nam cấm bố tôi không được xuất cảnh. Mãi hơn một năm rưỡi sau, ông mới được phép sang Đông Đức đoàn tụ với vợ và con trai, cùng làm việc như một bác sĩ.

Gia đình tôi và những mâu thuẫn của “quốc tế xã hội chủ nghĩa”:

Từ đầu, gia đình tôi đã sống trong nghịch lý giữa tinh thần quốc tế và sự khép kín của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Tôi sinh ra vài tháng sau khi Bức tường Berlin được dựng lên ngay trong mâu thuẫn ấy. Với mẹ tôi, bức tường đồng nghĩa với việc chấm dứt nghề nghiệp như trước. Những chuyến công tác tới các nước nói tiếng Pháp dừng lại. CHDC Đức trở thành một “tỉnh lẻ đặc biệt” của nước Đức: thiếu hiểu biết về thế giới bên ngoài và mang mặc cảm tự ti.

Ngoại ngữ bị xem nhẹ. Tiếng Nga bị ghét, tiếng Anh và tiếng Pháp cũng không được coi trọng. Từ đó nảy sinh những cách nhại giễu cợt: “Ching-chang-chong”, hay những khẩu hiệu như “muôn năm tình đoàn kết quốc tế”.

Ngay cả những bài hát thiếu nhi của Đội Thiếu niên Tiền phong vốn nhằm thể hiện hữu nghị cũng khiến tôi khó chịu. Khi cả hội trường hát “Dù cha mẹ em là người da đen, vàng hay trắng” hay “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”, tôi chỉ biết đứng im, mồ hôi ướt đẫm, tránh ánh nhìn chế giễu xung quanh.

Vết thương kéo dài:

Tôi luôn nhận ra ai có thể làm tổn thương mình. Tôi có một khả năng quan sát ánh mắt và ngôn ngữ cơ thể để sinh tồn xã hội. Nhưng điều đó đôi khi khiến tôi phản ứng quá mức, thậm chí làm tổn thương cả những người vô hại.

Cũng có những người “thích” tôi vì sự khác biệt ấy, một dạng phân biệt đối xử tích cực, dễ chịu hơn, nhưng vẫn khó xử lý.

Nhiều thập kỷ sau, tôi vẫn rất nhạy cảm với ánh nhìn. Tôi vẫn cảnh giác quá mức. Không dễ thừa nhận rằng mình mang theo những tổn thương ấy. Mái nhà hỏng có thể sửa, nhưng sự nhạy cảm thì phải sống cùng nó.

Điều tôi muốn nói rõ:

Tôi không than phiền. Tôi chỉ muốn nói rõ một điều: ở CHDC Đức đã tồn tại phân biệt chủng tộc và bài ngoại. Những vụ bạo lực, tấn công và giết người ở miền Đông sau khi Bức tường sụp đổ không khiến tôi ngạc nhiên.

Cách gọi người Việt là “Vidschis” ( Việt cộng) là một ví dụ điển hình cho sự thiếu hiểu biết, người Việt không hề liên quan gì đến Vidschi. Âm thanh miệt thị trong từ đó là có chủ đích, và không chỉ tồn tại trong giới cực hữu.

Những mốc không thể kết thúc:

Tôi nên dừng lại ở đâu?

  • Tháng 11 năm 1989, khi tôi đứng giữa cuộc biểu tình thứ Hai ở Leipzig và chứng kiến khẩu hiệu “Chúng tôi là nhân dân” biến thành “Chúng ta là một dân tộc”, rồi lặng lẽ bỏ đi?
  • Năm 1990, khi lần đầu nhìn thấy khẩu hiệu “Người nước ngoài cút đi”?
  • Năm 1991, khi không còn dám đi tàu điện vì bầu không khí bạo lực?
  • Hay năm 2000, khi con gái 12 tuổi của tôi bị bao vây trong công viên Thälmann ở Berlin, bị lăng mạ và bị bẻ gãy món đồ trang trí tóc?
  • Hay năm 2010, khi một trang web tân phát xít kích động thù ghét chống lại tôi?

Dù vậy, tôi không muốn đổi chỗ với ai khác. Và từ lâu tôi cũng không còn muốn trở thành Beate Lehmann nữa.

Đôi khi, việc không thể đứng ngoài cuộc lại trở thành một lợi thế.

Mọi thứ từng khác biệt với tôi, rồi dần trở nên quen thuộc.

Angelika Nguyễn


Bài viết này là phiên bản chỉnh, đăng lần đầu trong: 
Karsten Krampitz, Markus Liske & Manja Präkels (chủ biên): Kaltland.
Eine Sammlung. Berlin: Rotbuch Verlag.

Angelika Nguyễn là nhà nghiên cứu điện ảnh và tác giả. 
Các bài viết và tiểu luận của bà xuất hiện trên báo chí, tạp chí chuyên ngành và internet. Năm 1991, bà thực hiện làm bộ phim tài liệu Bruderland ist abgebrannt về người Việt nhập cư ở Berlin.


MÁ ƠI, VIỆT NAM CÓ XA KHÔNG?

Tác giả bài thơ là Fritz Räbiger

(chuyển ngữ thơ Đức sang thơ tiếng Việt bởi Ngô Đức Kế)

Trước giờ đi ngủ đêm khuya,

Con hỏi nước “Việt bên kia xa vời?”

“Không xa lắm đó con ơi,

Ngoan ngoãn nhắm mắt ngủ rồi nghe con.”

“Má ơi, người Việt nói năng

Có như tiếng má dịu dàng bên tai?”

“Tiếng người bên ấy khác hoài,

Khác như gió lạ cuối trời xa xăm.”

“Má ơi, sao có chiến tranh?”

“Vì người giàu muốn dân lành khổ đau,

Muốn người nghèo mãi cơ cầu,

Nên bom với đạn phủ màu tang thương.”

“Trẻ con giữa chốn chiến trường

Đêm về có được nằm giường ngủ không?”

Má nhìn xa vắng mênh mông:

“Có em còn mẹ, lại không có nhà…”

“Nếu nhà sập đổ hết mà,

Mấy em bé ấy biết là nơi đâu?”

“Có em trú dưới hầm sâu,

Có em phiêu bạt qua cầu gió sương…”

“Má ơi, giữa cảnh tang thương,

Có khi nào trẻ lạc đường bơ vơ?”

“Ừ… đôi lúc… giữa bom mờ…”

“Con nghe buồn quá… má ru con nào…”

“Chiến tranh có tới đây sao?”

“Má cầu chuyện ấy đừng vào nước ta…”

“Nếu rồi giặc tới thật à,

Cha cũng cầm súng đi ra chiến trường?”

“Nếu cha đi giữa chiến trường,

Chỉ còn hai má con nương nhau à?”

Má rơi lệ, mặt quay ra,

"Con ơi… con có xót xa nỗi gì…”

Má ôm con má thầm thì,

“Việt Nam mình chẳng xa chi con à."

 

MUTTER, WIE WEIT IST VIETNAM

( bản gốc tiếng Đức) - Tác giả bài thơ: Fritz Räbiger

 

Vor dem Schlafen fragte mein Kind,

Mutter, wie weit ist Vietnam?

Sehr weit mein Kind, sei still!

Mutter, wie sprechen die Menschen da?

Ganz anders als wir hier, mein Kind.

 

Mutter, warum ist da Krieg?

Warum? Weil Fremde und Reiche woll`n,

daß Arme dort arm bleiben soll`n,

darum, mein Kind, ist da Krieg.

 

Mutter, was machen die Kinder im Krieg?

Die Kinder…? die sind…wohl zu Haus…

Mutter, und wenn nun das Haus nicht mehr steht?

Ich weiß es nicht wo sie dann sind…

 

Mutter, sie müssen doch irgendwo sein?

Ja…irgendwo…mein Kind…

Oder sind sie vielleicht ganz allein?

Ja…manchmal…nicht alle…schlaf ein

 

Mutter, kommt dieser Krieg auch hierher?

Hierher…? ich hoff`s nicht, mein Kind…

Und wenn doch, nimmt Vater dann auch ein Gewehr?

 

Vater…? Ja, ganz bestimmt!

Mutter, wenn Vater dann weg ist von uns,

bleiben wir beide zusamm`n?

Mutter…du weinst…

so nah ist Vietnam…?

 

Thu Phương - © Báo TIN TỨC VIỆT ĐỨC

Tiêu đề “Khi Việt Nam không hề xa: Ký ức đau đớn của một đứa trẻ lớn lên giữa chiến tranh và định kiến” do Tin Tức Việt Đức đặt.

 

Lan tỏa bài viết này

Ý kiến bạn đọc

ở Đức nên biết

- Báo điện tử tại Đức từ năm 1995 -

TIN NHANH | THỰC TẾ | TỪ NƯỚC ĐỨC

Tiện ích trực tuyến