Chia sẻ:FacebookZalo
"Thách thức thực sự không phải là liệu Việt Nam có nên nhập khẩu lao động phổ thông hay không, mà là làm thế nào để quản lý quá trình này trong khi vẫn bảo vệ người lao động trong nước," Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp nhận định.

 

1 Viet Nam Co The Som Tro Thanh Nuoc Nhap Khau Lao Dong

Công an tổ chức một buổi tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông cho hơn 250 công nhân người Bangladesh của Công ty Cổ phần Kết cấu thép ATAD Đồng Nai ở Khu Công nghiệp Long Khánh, phường Bình Lộc (Đồng Nai) hôm 5/7

Hình ảnh trên của hơn 250 công nhân người Bangladesh tại Công ty Kết cấu thép ATAD Đồng Nai đã thu hút sự chú ý của một vị học giả.

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp tại Viện nghiên cứu ISEAS ở Singapore cho rằng bức hình này đã nêu lên một hiện tượng "lạ lẫm", vì Việt Nam vốn là nước đưa hàng trăm ngàn lao động đến nhiều nước ở các châu lục.

Tuy nhiên, ông cho rằng điều này không "bất thường" mà phản ánh "một sự chuyển dịch mang tính cấu trúc" và là "hệ quả của sự thành công về kinh tế của Việt Nam hơn là dấu hiệu của sự yếu kém", theo bài viết trên trang Fulcrum thuộc Viện ISEAS hôm 13/7.

Vì sao có sự chuyển dịch?

Tính đến cuối năm 2025, có 162.858 lao động nước ngoài, đến từ khoảng 110 quốc gia và vùng lãnh thổ, đang làm việc ở Việt Nam, theo Bộ Nội vụ.

Trong số này, hơn một nửa là lao động kỹ thuật (85.951), chưa tới một phần ba là chuyên gia (44.342), trong khi các nhà quản lý chiếm khoảng 14% (22.416) và còn lại là giám đốc điều hành (10.149).

Người Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất (31,3%), theo sau là người Hàn Quốc (18,5%), Đài Loan (12,9%) và Nhật Bản (9,5%).

Con số tổng ở trên cao hơn số liệu năm 2024 và 2023, lần lượt là 161.992 và 136.800 người, cho thấy xu hướng tăng dần trong những năm gần đây.

Để so sánh, tính đến cuối năm 2025, gần 900.000 lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài, tập trung chủ yếu tại các nền kinh tế ở Đông Á – như Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Con số này chưa tính lao động người Việt Nam không có giấy tờ, không chỉ ở các quốc gia châu Á mà còn ở châu Âu và châu Phi.

Từ một nước nổi tiếng về nguồn lao động dồi dào cho các quốc gia khác, Việt Nam giờ đây "ngày càng nhập khẩu nhiều lao động hơn để duy trì hoạt động của các nhà máy và công trường xây dựng, không phải vì nền kinh tế đang suy yếu mà vì nó đang phát triển", ông Lê Hồng Hiệp đánh giá, đồng thời chỉ ra bốn yếu tố thúc đẩy xu hướng này.

Yếu tố thứ nhất là Việt Nam đang nhanh chóng trở nên già hơn trước khi giàu – khi con số người 60 tuổi và già hơn sẽ chạm mức gần 30 triệu người vào năm 2034, đồng nghĩa với việc "số lượng thanh niên Việt Nam gia nhập thị trường lao động mỗi năm sẽ giảm đi ngay cả khi các nhà máy vẫn tiếp tục mở cửa."

Yếu tố thứ hai là việc thiếu lao động tay nghề thấp, trong bối cảnh những nơi có nhà máy nhận đầu tư FDI đang mọc lên nhưng không đủ người để tuyển dụng.

Vị học giả dẫn chứng con số gần 1/4 triệu người lao động chỉ tính riêng ở tỉnh Bắc Ninh trong năm nay, trong khi 30 doanh nghiệp trong một khảo sát vào cuối tháng 12/2025 cho biết họ chỉ tuyển được chưa đến 10% trong tổng nhu cầu 35.000 người.

Trong khi đó, việc thiếu lao động trong nước cũng đang khiến chính quyền gặp khó khăn trong việc đạt chỉ tiêu đưa khoảng 112.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài năm nay, theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng hôm 26/6.

2 Viet Nam Co The Som Tro Thanh Nuoc Nhap Khau Lao Dong

Các công nhân đổi ca vào buổi sáng tại nhà máy GoerTek Inc. ở Khu công nghiệp Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (ảnh chụp tháng 7/2023)

Việc nền kinh tế Việt Nam được nâng hạng và lao động nội địa sẽ dần chuyển sang các công việc đòi hỏi tay nghề cao, có thu nhập cao cũng là một yếu tố khác giải thích cho nhu cầu "nhập khẩu" lao động nước ngoài.

Yếu tố cuối cùng, theo Tiến sĩ Hiệp, chính là tham vọng của Việt Nam, nơi các dự án hạ tầng đồ sộ đang tạo ra các nhu cầu lao động rất lớn, như sân bay Long Thành.

Báo cáo gần đây nhất của Tổng CTCP Cảng hàng không (ACV) vào hôm 13/7 cho thấy dự án sân bay Long Thành hiện đang gặp áp lực lớn do thiếu hụt khoảng 1.668 lao động, tập trung phần lớn tại gói thầu 5.10 và 4.8.

Trong bối cảnh đó, tuyển dụng lao động nước ngoài không phải là việc "không mong muốn" mà "điều phản tác dụng là một chế độ quản lý ngăn cản các doanh nghiệp tuyển dụng họ khi thực sự có sự thiếu hụt lao động," theo ông Hiệp.

Bộ Nội vụ vào tháng Năm cho biết có bất cập trong việc triển khai Nghị định 219/2025/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đòi hỏi cần có thay đổi "để phù hợp với yêu cầu phát triển trong tình hình mới".

Dự thảo nghị định này, được soạn thảo dựa trên tinh thần "tháo gỡ tối đa các rào cản", đã được đưa ra để lấy ý kiến từ tháng 5/2025 đến hôm 9/6 vừa qua.

Dự thảo tờ trình đã chỉ ra một loạt hạn chế cần giải quyết, trong đó có vấn đề ở các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, năng lượng mới thì cơ chế xác nhận chuyên gia dựa vào số năm kinh nghiệm chưa phù hợp trong khi Việt Nam đang rất cần chuyên gia, lao động nước ngoài có trình độ kỹ thuật cao.

Bên cạnh đó, do quy định cũ chỉ chấp nhận giấy khám sức khỏe do cơ sở y tế tại Việt Nam cấp, khiến người lao động nước ngoài phải nhập cảnh vào Việt Nam để được cấp giấy khám sức khỏe trước khi nộp hồ sơ cấp giấy phép lao động/giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động – một quá trình làm "tăng chi phí và gây lãng phí thời gian cho cả người lao động và người sử dụng lao động", vẫn theo dự thảo tờ trình của Bộ Nội vụ.

3 Viet Nam Co The Som Tro Thanh Nuoc Nhap Khau Lao Dong

Cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper gần đây đã trở thành một trong nhiều chuyên gia nước ngoài tham gia Tổ tư vấn Trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM

Việc gia tăng nhập khẩu ở các quốc gia từng có lịch sử xuất khẩu lao động không mới – Hàn Quốc là một ví dụ với nhiều bài học.

Xứ sở kim chi biến mình từ một nước xuất khẩu lao động ròng vào các thập niên 1960 và 1970 – khi nước này đưa hàng chục ngàn thợ mỏ và y tá sang Tây Đức và công nhân xây dựng sang Trung Đông – sang một nước nhập khẩu lao động, trong đó có rất nhiều người Việt Nam.

Đến cuối những năm 1980, sự bùng nổ kinh tế đã thúc đẩy chính quyền cải tổ chính sách để thu hút người lao động nhập cư.

Vào thời điểm đó, các tổ chức doanh nghiệp như Liên đoàn Doanh nghiệp Nhỏ Hàn Quốc (KFSB) liên tục kiến ​​nghị chính phủ cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài. Tuy nhiên, việc này đã vấp phải chỉ trích, khi công nhân thuộc Liên đoàn Công đoàn Hàn Quốc (FKTU) và Đại hội Công đoàn Hàn Quốc (KTUC) kịch liệt phản đối vì lo ngại nó sẽ gây nguy hiểm đến việc làm của họ, theo bài nghiên cứu của giáo sư Dong-Hoon Seol từ Đại học Quốc gia Jeonbuk.

Ông Lê Hồng Hiệp cho rằng chính quyền Việt Nam cần phải vừa thiết lập một hệ thống pháp luật "linh hoạt" cho người lao động nước ngoài, vừa tiếp tục đào tạo và nâng cấp trình độ của lao động nội địa.

Tính đến nay, chính quyền Việt Nam chưa có một chính sách cụ thể để định hình mình là một nước nhập khẩu lao động.

Điều này khác với Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực từ năm 2022, bên cạnh hàng loạt các thỏa thuận tiếp nhận người lao động Việt ở nhiều nước trên thế giới.

Trong một diễn biến liên quan đến lao động nước ngoài, chính quyền gần đây cũng đã cho phép người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam được gia nhập và hoạt động công đoàn tại công đoàn cơ sở từ 1/7/2025, theo Luật Công đoàn (sửa đổi).

Nguồn: BBC

Lan tỏa bài viết này

Ý kiến bạn đọc

ở Đức nên biết

- Báo điện tử tại Đức từ năm 1995 -

TIN NHANH | THỰC TẾ | TỪ NƯỚC ĐỨC

Chuyên mục: KHỞI NGHIỆP

banner chuyen muc khoi nghiep o duc 300x200

Cộng đồng quan tâm

Bài viết khác có thể bạn quan tâm