Việt kiều về nước có phải khai báo tạm trú?

Xin cho hỏi Việt kiều khi về VN và lưu trú từ một tháng trở lên có phải ra UBND phường hoặc đến cơ quan nhà nước nào xác nhận việc lưu trú hay không? Quy định này căn cứ vào văn bản luật nào của Chính phủ VN?

định 5re23 khiöä thêm 3e năm 3rt2fg và jym nếu 53r8anăm 3rt2fg và vtzu nếu a người arhWethanh 2f thườngg

Trả lời:người gxhWethanh 2f thườngg emd0k1ar 5vẫnöHà 2f3 ö vàng năm 3rt2fg và Öab nếu

- Người VN định cư ở nước ngoài, tức Việt kiều (có thể còn hoặc không còn giữ quốc tịch VN) khi nhập cảnh vào VN sẽ được xem như người nước ngoài và được điều chỉnh bởi pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại VN và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Theo điều 11 nghị định 21/2001/NĐ-CP hướng dẫn pháp lệnh nói trên, người nước ngoài vào VN theo lời mời của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước thì thông qua cơ quan, tổ chức, cá nhân mời để đăng ký với Nhà nước về mục đích, thời hạn và địa chỉ cư trú tại VN. Trường hợp người nước ngoài không có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở VN mời thì đăng ký cư trú tại VN tại đơn xin cấp thị thực. Đối với người nước ngoài được miễn thị thực thì không phải đăng ký cư trú khi làm thủ tục nhập cảnh.

Bài viết "Việt kiều về nước có phải khai báo tạm trú?"Bài viết dmca_289458ceb9 www_tintucvietduc_net này - tại trang TINTUCVIETDUC.NETBài viết này - tại trang TINTUCVIETDUC.NET - dmca_289458ceb9 www_tintucvietduc_net

Theo khoản 2 điều 15 nghị định 21/2001/NĐ-CP, sau khi đã nhập cảnh vào VN, không phân biệt thời hạn lưu trú, người nước ngoài phải khai báo tạm trú tại địa phương, kể cả trường hợp được miễn thị thực. Nếu nghỉ qua đêm tại khách sạn, khu nhà ở dành riêng cho người nước ngoài thì khai báo tạm trú thông qua chủ khách sạn hoặc người quản lý khu nhà ở. Trường hợp nghỉ qua đêm tại nhà riêng của công dân thì người nước ngoài phải trực tiếp hoặc thông qua chủ nhà khai báo tạm trú với công an phường, xã nơi tạm trú.

Nếu người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định, theo điểm e khoản 2 điều 20 nghị định 73/2010/NĐ-CP, có thể bị xử phạt tiền từ 500.000-2.000.000 đồng.

Nguồn: Báo Pháp luật

 

Tin tức Việt Đức

- Báo điện tử tại Đức từ năm 1995 -

TIN NHANH | THỰC TẾ | TỪ NƯỚC ĐỨC